Sau sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đặt ra với đội ngũ cơ sở không chỉ là biết dùng công nghệ, mà còn phải xử lý công việc đúng quy trình, bảo vệ dữ liệu và phục vụ người dân hiệu quả. Phóng viên Tạp chí Điện tử Việt - Đức trao đổi với ông Phạm Quốc Đông, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đào tạo Công nghệ và Chuyển đổi số AVG, về hướng đào tạo trí tuệ nhân tạo (AI) gắn với thực tiễn công vụ.
Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025. Đặc biệt, Quyết định số 700/QĐ-TTg, ngày 20/04/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp giai đoạn 2026 - 2031; Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 08/05/2026 cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cấp xã. Đây là những căn cứ quan trọng để địa phương chủ động rà soát nhu cầu và tổ chức bồi dưỡng có trọng tâm.
Điều cần nhấn mạnh là đào tạo (AI) không phải một phong trào chạy theo công cụ. Mục tiêu cuối cùng là giúp cán bộ xử lý công việc đúng hơn, nhanh hơn, minh bạch hơn và dành thêm thời gian cho những việc cần sự thấu hiểu, phán đoán và trách nhiệm của con người.
PV: Sau sáp nhập, đội ngũ cấp xã, phường có nền tảng chuyên môn và kinh nghiệm khác nhau. Chương trình đào tạo nên bắt đầu từ đâu?
Ông Phạm Quốc Đông: Trước hết cần đánh giá năng lực và nhu cầu theo vị trí việc làm, lĩnh vực phụ trách và mức độ thành thạo sử dụng công nghệ số của từng nhóm. Lãnh đạo, người đứng đầu cần được bồi dưỡng về quản trị chuyển đổi số, tổ chức quy trình, sử dụng dữ liệu để điều hành và kiểm soát rủi ro. Công chức chuyên môn cần học cách khai thác (AI) trong các nhiệm vụ cụ thể của lĩnh vực mình phụ trách. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cần chú trọng kỹ năng hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, hướng dẫn rõ ràng và xử lý tình huống mới phát sinh.
Có thể tổ chức học chung phần nền tảng, sau đó phân nhóm thực hành theo vị trí việc làm và mức độ thành thạo. Nên tổ chức theo nhóm năng lực, có khung chương trình đào tạo, nội dung nền tảng cho người mới bắt đầu và bài tập nâng cao cho người đã có kinh nghiệm. Cách làm này giúp hạn chế khoảng cách giữa cán bộ từng công tác ở các đơn vị khác nhau, đồng thời tạo điều kiện để họ chia sẻ các quy trình, kinh nghiệm và cách xử lý tình huống sau sắp xếp.
PV: Cán bộ, công chức có thể ứng dụng (AI) vào những công việc nào để thấy hiệu quả thiết thực?
Ông Phạm Quốc Đông: Có thể bắt đầu từ các việc hỗ trợ, có đầu ra dễ kiểm tra: tóm tắt tài liệu dài; lập dàn ý báo cáo; rà lỗi chính tả, thể thức; phân loại câu hỏi thường gặp; chuyển nội dung chuyên môn thành hướng dẫn dễ hiểu; hỗ trợ tra cứu trong kho tài liệu đã được cơ quan kiểm duyệt; hoặc gợi ý cấu trúc dữ liệu, bảng tổng hợp. Với từng nhiệm vụ, cán bộ cần đối chiếu thông tin với văn bản gốc, quy trình đang có hiệu lực và dữ liệu được phép sử dụng.
Lớp học nên dùng tình huống công vụ đã được ẩn danh hoặc dữ liệu mô phỏng. Học viên thực hành từ khâu xác định yêu cầu, đặt câu lệnh, đánh giá câu trả lời, kiểm chứng căn cứ đến hoàn thiện sản phẩm. Chẳng hạn, thay vì yêu cầu (AI) “viết một báo cáo”, người học cần biết nêu rõ mục đích, phạm vi, nguồn dữ liệu, đối tượng đọc và tiêu chí đầu ra; sau đó kiểm tra từng số liệu, nhận định và căn cứ pháp lý. Năng lực quan trọng không nằm ở câu lệnh thật dài, mà ở khả năng hiểu việc và chịu trách nhiệm về nội dung trình ký.
PV: Khi sử dụng (AI) để tham mưu hoặc soạn thảo văn bản, làm sao bảo đảm tính chính xác và an toàn thông tin?
Ông Phạm Quốc Đông: (AI) có thể tạo câu trả lời trôi chảy nhưng vẫn đưa ra thông tin sai, thiếu căn cứ hoặc đã hết hiệu lực. Vì vậy, không sử dụng câu trả lời của (AI) như nguồn pháp lý độc lập. Cán bộ phải đối chiếu với văn bản chính thức, kiểm tra ngày ban hành, hiệu lực, phạm vi áp dụng và thẩm quyền; mọi số liệu phải truy về nguồn. Văn bản tham mưu, quyết định và nội dung phát hành vẫn phải được người có trách nhiệm rà soát, phê duyệt theo quy trình.
Cơ quan cần có hướng dẫn nội bộ về loại công việc được phép dùng (AI), công cụ được sử dụng và cách kiểm tra đầu ra. Không nhập dữ liệu cá nhân, hồ sơ công dân, thông tin mật hoặc tài liệu nội bộ vào dịch vụ chưa được cơ quan cho phép. Cần phân quyền truy cập, quản lý tài khoản, lưu vết phù hợp và hướng dẫn cán bộ nhận biết rủi ro lừa đảo, rò rỉ dữ liệu. Đào tạo phải giúp mỗi người hình thành thói quen hỏi ba điều: Thông tin này lấy từ đâu, có được phép đưa vào công cụ không, và ai chịu trách nhiệm nếu nội dung sai?
PV: Vai trò của Lãnh đạo xã, phường trong việc đưa (AI) vào công việc và thúc đẩy cán bộ học tập là gì?
Ông Phạm Quốc Đông: Người đứng đầu quyết định việc ứng dụng có đi vào thực chất hay dừng ở khẩu hiệu. Lãnh đạo cần xác định bài toán ưu tiên, chọn quy trình phù hợp để thử nghiệm, bố trí thời gian cho cán bộ học và nêu gương trong việc tuân thủ quy định dữ liệu, kiểm chứng thông tin. Đồng thời, phải thống nhất cách phối hợp giữa các bộ phận, tránh mỗi nơi dùng một công cụ riêng và hình thành các kho dữ liệu rời rạc.
Việc đánh giá cũng cần gắn với chất lượng phục vụ và kết quả công việc: Hồ sơ được hướng dẫn rõ hơn hay không, thời gian xử lý có cải thiện không, lỗi phải làm lại có giảm không, dữ liệu có được cập nhật đúng quy trình không. Không nên lấy số lượng tài khoản (AI), số văn bản được tạo ra hay số buổi tập huấn làm thước đo duy nhất. Lãnh đạo cần tạo môi trường để cán bộ báo cáo khi thử nghiệm, rút kinh nghiệm và điều chỉnh cách làm trong phạm vi cho phép.
PV: Theo ông, một khóa bồi dưỡng (AI) cho đội ngũ cấp cơ sở nên được thiết kế như thế nào để học xong có thể áp dụng?
Ông Phạm Quốc Đông: Tôi đề xuất chương trình theo bốn lớp nội dung gắn kết. Lớp thứ nhất là nền tảng: hiểu (AI) có thể làm gì, giới hạn ở đâu và vì sao kết quả có thể sai. Lớp thứ hai là nghiệp vụ số: quy trình công vụ, khai thác dữ liệu và sử dụng các hệ thống được cơ quan triển khai. Lớp thứ ba là thực hành theo vị trí việc làm, dùng những tình huống gần với công việc hằng ngày. Lớp thứ tư là an toàn, đạo đức và trách nhiệm giải trình: bảo vệ dữ liệu, kiểm chứng nguồn, minh bạch việc sử dụng (AI) khi quy định yêu cầu và giữ quyền quyết định ở người có thẩm quyền.
Phương pháp nên kết hợp học trực tiếp, học trực tuyến và hướng dẫn tại nơi làm việc. Mỗi học viên hoàn thiện ít nhất một sản phẩm phục vụ công việc, kèm nguồn đối chiếu và bước kiểm chứng. Có thể đề xuất một buổi rà soát sau 2 - 4 tuần để đánh giá khả năng áp dụng và tháo gỡ vướng mắc. Sau khóa học, cần có người hỗ trợ chuyên môn, kho tài liệu dùng chung và buổi rà soát sau một thời gian áp dụng. Đào tạo chỉ có tác dụng khi gắn với thay đổi cụ thể trong công việc
PV: Làm thế nào để đánh giá đúng năng lực sau đào tạo, thay vì chỉ nhìn vào một bài kiểm tra hoặc sản phẩm do (AI) tạo ra?
Ông Phạm Quốc Đông: Có thể đánh giá qua cả quá trình và kết quả. Học viên cần trình bày cách xác định vấn đề, nguồn đã sử dụng, phần việc (AI) hỗ trợ, cách kiểm chứng và lý do lựa chọn phương án cuối cùng. Bài tập nên gắn với tình huống mới để người học giải thích và bảo vệ cách xử lý, thay vì chỉ nộp một văn bản hoàn chỉnh.
Ở cấp đơn vị, nên theo dõi một số chỉ số phù hợp với nhiệm vụ như: tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung do hướng dẫn chưa rõ, thời gian tổng hợp báo cáo, tỷ lệ dữ liệu thiếu hoặc sai, mức độ hài lòng của người dân. Các chỉ số cần được lựa chọn thận trọng, có cơ sở để so sánh và không tạo động cơ chạy theo con số. Mục tiêu là nhận biết năng lực thực chất và cải thiện quy trình, không phải dùng (AI) để thay thế việc đánh giá chuyên môn của lãnh đạo.
PV: Viện AVG nhìn nhận vai trò của các cơ sở đào tạo công nghệ trong quá trình này ra sao?
Ông Phạm Quốc Đông: Các cơ sở đào tạo cần phối hợp với cơ quan quản lý và địa phương để khảo sát nhu cầu trước khi xây dựng chương trình. Nội dung phải cập nhật theo chính sách, gắn với chức năng của chính quyền cơ sở, dễ tiếp cận với cán bộ có trình độ số khác nhau và có hướng dẫn thực hành an toàn. Đơn vị đào tạo cũng cần đánh giá sau khóa học, tiếp nhận phản hồi để điều chỉnh tài liệu và cách giảng dạy theo khung chương trình đào tạo cho phù hợp với từng đơn vị. khảo sát nhu cầu trước lớp, thực hành theo nhiệm vụ, bàn giao tài liệu và hỗ trợ sau đào tạo. Nội dung nên diễn đạt phù hợp với những hoạt động Viện đã thực hiện hoặc định hướng triển khai, tránh thành cam kết vượt phạm vi từng chương trình.
Với vai trò là đơn vị nghiên cứu, đào tạo về công nghệ và chuyển đổi số, Viện AVG quan tâm đến hướng đào tạo lấy nhiệm vụ thực tế làm trung tâm: Khảo sát nhu cầu trước lớp, thực hành theo nhiệm vụ, bàn giao tài liệu và hỗ trợ sau đào tạo. Nội dung nên diễn đạt phù hợp với những hoạt động Viện đã thực hiện hoặc định hướng triển khai, tránh thành cam kết vượt phạm vi từng chương trình. Cách tiếp cận này giúp chuyển kiến thức thành năng lực sử dụng được, đồng thời khuyến khích cán bộ học tập thường xuyên khi công nghệ và yêu cầu công vụ tiếp tục thay đổi.
PV: Ông muốn gửi thông điệp gì tới lãnh đạo và cán bộ, công chức xã, phường?
Ông Phạm Quốc Đông: (AI) không thay thế trách nhiệm thực thi công vụ. Công nghệ có thể hỗ trợ đọc, tổng hợp và gợi ý; còn việc hiểu hoàn cảnh của người dân, cân nhắc tác động, lựa chọn phương án và chịu trách nhiệm trước pháp luật vẫn thuộc về ý chí con người quyết định. Vì vậy, “Thước đo của đào tạo AI là cán bộ hoàn thành công việc tốt hơn sau khóa học, với kết quả được kiểm chứng và trách nhiệm được xác định rõ”.
Vì vậy, lãnh đạo cần coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng là một phần của kế hoạch vận hành chính quyền địa phương hai cấp; cán bộ cần phải chủ động học, thực hành và kiểm chứng; cơ sở đào tạo cần xây dựng khung chương trình đào tạo, cung cấp chương trình sát việc và có trách nhiệm. Khi ba phía cùng tham gia, (AI) mới trở thành công cụ hữu ích, nâng chất lượng tham mưu, giảm thao tác lặp lại và cải thiện trải nghiệm của người dân, thay vì chỉ là một công nghệ mới được đưa vào sử dụng.