Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về kết quả tổng rà soát
Cuộc tổng rà soát lần này không chỉ dừng lại ở các con số thống kê đơn thuần mà đặt mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng hệ thống VBQPPL. Kết quả rà soát sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp xử lý tổng thể, phục vụ xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, dễ tiếp cận, bảo đảm quyền con người và thúc đẩy phát triển bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới. Đặc biệt, dữ liệu này còn cung cấp thông tin quý báu cho việc nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 2013.
Việc thực hiện rà soát phải bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là các định hướng lớn như phát triển kinh tế "2 con số", đổi mới mô hình chính quyền 3 cấp, thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; đồng thời tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về rà soát VBQPPL, nhất là theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và các văn bản hướng dẫn. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả rà soát.
Rà soát toàn bộ VBQPPL tính đến hết ngày 31/10/2026, trừ Hiến pháp
Phạm vi rà soát là toàn bộ VBQPPL còn hiệu lực (trừ Hiến pháp) và cả những văn bản đã ban hành nhưng chưa có hiệu lực, tính đến hết ngày 31/10/2026. Đặc biệt lưu ý, các văn bản cũ không còn hình thức theo luật mới nhưng vẫn còn hiệu lực (như thông tư liên tịch trước đây) vẫn phải rà soát.
Trong tổ chức thực hiện, việc phân công trách nhiệm được quy định rất cụ thể. Bộ, cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm rà soát các văn bản do mình ban hành hoặc chủ trì soạn thảo; đồng thời rà soát cả những văn bản liên quan đến lĩnh vực mình quản lý trong trường hợp cơ quan chủ trì không còn. Các tổ chức, đơn vị thuộc Bộ rà soát theo lĩnh vực phụ trách, còn tổ chức pháp chế đóng vai trò điều phối, đôn đốc.
Tương tự, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước cũng thực hiện rà soát trong phạm vi văn bản của mình. Các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam… đều có trách nhiệm rà soát.
Ở địa phương, UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm rà soát toàn bộ văn bản do HĐND, UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành. UBND cấp xã cũng phải rà soát cả văn bản của mình và cả văn bản cấp huyện trước khi sắp xếp tổ chức.
6 tiêu chí của tổng rà soát
Một nội dung kỹ thuật nhưng rất quan trọng được hướng dẫn là việc xây dựng kế hoạch thực hiện. Kế hoạch thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL có các nội dung cơ bản, gồm: Mục đích, yêu cầu xây dựng Kế hoạch; đối tượng, phạm vi tổng rà soát của cơ quan; nội dung, tiến độ công việc; kinh phí, các điều kiện bảo đảm; tổ chức thực hiện. Trong đó, nội dung, tiến độ công việc cần xác định rõ trách nhiệm thực hiện (chủ trì, phối hợp), thời gian, tiến độ, sản phẩm hoàn thành công việc.
Trong quá trình triển khai, bước đầu tiên là các cơ quan cần xác định đầy đủ, chính xác các văn bản thuộc đối tượng, phạm vi tổng rà soát của cơ quan mình. Các cơ quan phải cập nhật liên tục tình trạng hiệu lực của văn bản, kể cả những văn bản mới ban hành.
Tiếp theo là sử dụng các kết quả rà soát trước đây, như hệ thống hóa VBQPPL kỳ 2019-2023, các danh mục văn bản hết hiệu lực; tổng hợp các kết quả rà soát VBQPPL đã thực hiện như kết quả rà soát, xử lý văn bản chịu sự tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 190/2025/QH15 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; kết quả rà soát, hoàn thiện pháp luật thực hiện phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Điều 32 Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15; kết quả rà soát, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, "điểm nghẽn" do quy định pháp luật (thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị)…
Cốt lõi của quá trình rà soát nằm ở 6 tiêu chí lớn: Từ sự phù hợp với chủ trương của Đảng, tính hợp hiến - hợp pháp, tính tương thích với các điều ước quốc tế, đến việc cắt giảm thủ tục hành chính, phát hiện điểm nghẽn và nhận diện các nội dung, lĩnh vực, vấn đề chưa có quy định pháp luật điều chỉnh.
Kết quả rà soát phải được tổng hợp, báo cáo trên hệ thống phần mềm của Bộ Tư pháp, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và thuận tiện theo dõi. Thời hạn cũng được ấn định rõ: Báo cáo tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL gửi về Bộ Tư pháp trước ngày 10/7/2026 (số liệu cập nhật đến hết ngày 30/6/2026); Báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL (Báo cáo chính thức) gửi về Bộ Tư pháp trước ngày 10/11/2026 (số liệu cập nhật đến hết ngày 31/10/2026).