Trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ về các quyết sách phát triển đất nước được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XIV, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế-Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, chúng ta vẫn còn dư địa tăng trưởng cao, kể cả ở mức trên 10%/năm trong giai đoạn 2026–2030.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có nhiều rủi ro và bất định, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp.
Trước hết, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, cần tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống.
Đầu tư công cần được huy động và phát huy vai trò lan tỏa mạnh mẽ thông qua các đại dự án hạ tầng đa phương thức như đường cao tốc, sân bay, cảng biển, hạ tầng viễn thông, năng lượng và dịch vụ. Song song đó, cần duy trì thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với mức vốn thực hiện bình quân khoảng 30 tỷ USD/năm; thúc đẩy tiêu dùng nội địa thông qua cải cách chính sách tiền lương phù hợp với thị trường lao động; đẩy mạnh xuất nhập khẩu. Từ năm 2026, Việt Nam cần nâng tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do từ khoảng 31% lên 40–45% vào năm 2030, đồng thời ký kết thêm các hiệp định mới, đa dạng hóa thị trường, hướng tới tăng trưởng thương mại bình quân ít nhất 15%/năm và đưa kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD.
Tiếp theo, cần quyết liệt huy động, làm mới và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ tất cả các thành phần kinh tế. Cùng với đó, việc tạo động lực tăng trưởng mới thông qua đầu tư lớn vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có ý nghĩa then chốt.
Bên cạnh đó, cần lựa chọn đầu tư có trọng tâm vào các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp lưỡng dụng để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả. Mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa từ 36,6% năm 2025 lên khoảng 50% vào năm 2030 sẽ góp phần nâng cao khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ và thúc đẩy xuất khẩu. Đồng thời, việc phát huy vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế và thị trường tài sản số sẽ giúp mở rộng nguồn vốn với chi phí thấp cho nền kinh tế.
Cuối cùng, phát triển mạnh lực lượng doanh nghiệp là yêu cầu không thể thiếu. "Mục tiêu tăng thêm khoảng 2 triệu doanh nghiệp mới, hình thành 20 tập đoàn kinh tế tư nhân có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và 1–3 tập đoàn kinh tế nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới là nền tảng để tạo ra giá trị gia tăng quy mô lớn cho nền kinh tế", PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nói.
Đẩy mạnh cải cách, gỡ 'điểm nghẽn' về năng suất
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng tâm đắc với định hướng chỉ đạo của Tổng Bí thư được nêu ra tại Họp báo quốc tế về kết quả Đại hội XIV của Đảng. Đó là, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Sự nghiệp đổi mới là quá trình liên tục, nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Trước yêu cầu tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực, đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn, đề cao liêm chính, trách nhiệm giải trình và vai trò trung tâm của nhân dân.
Vị chuyên gia này cho rằng, việc Đại hội XIV xác định mục tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55% vào tăng trưởng kinh tế cho thấy yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển đã trở nên cấp thiết. Cùng với mục tiêu tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,5%/năm, TFP được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược tăng trưởng giai đoạn 2026–2030, phản ánh vai trò ngày càng quyết định của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quá trình tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, cơ cấu đầu tư cần được điều chỉnh theo hướng tăng mạnh chi cho R&D, nâng cấp hạ tầng nghiên cứu và phát triển, tập trung giải mã và làm chủ công nghệ chiến lược cũng như sản phẩm công nghệ chiến lược. Việc thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải gắn với quá trình hình thành và phát triển thị trường khoa học – công nghệ có quy mô ngày càng lớn. Đồng thời, cần xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt là đội ngũ nhân lực tinh hoa, các nhà khoa học đầu ngành và lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đi kèm với chính sách thu hút nhân tài trong và ngoài nước vào các lĩnh vực tiên phong, chuyên sâu.
Một giải pháp quan trọng khác là xây dựng hệ sinh thái phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với sự tham gia chặt chẽ của Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân. Qua đó, tạo cơ chế khuyến khích lâu dài cho các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ chiến lược, hình thành cơ cấu công nghiệp mới dựa trên đổi mới sáng tạo liên tục, đồng thời thu hẹp dần các ngành công nghiệp truyền thống hiệu quả thấp, tiêu tốn nhiều năng lượng và phát thải cao.
Đột phá thể chế gắn với phân cấp, phân quyền và thực thi hiệu quả
Nghị quyết Đại hội XIV xác định đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, gắn với phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu lực tổ chức thực thi. Thực tế cho thấy, việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, giảm mạnh đầu mối quản lý, sáp nhập đơn vị hành chính và cho phép áp dụng cơ chế đặc thù tại một số địa phương đã tạo chuyển biến rõ nét trong giai đoạn 2024–2025.
PGS. TS Nguyễn Thường Lạng đồng tình với quan điểm, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về phân cấp, phân quyền là điều kiện tiên quyết để tăng tính chủ động, giảm cơ chế "xin – cho" và hạn chế chậm trễ trong thực thi. Song song, vai trò của người đứng đầu chính quyền địa phương cần được phát huy mạnh mẽ trong mô hình chính quyền hai cấp, gắn với nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, số hóa quy trình quản lý và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giải quyết thủ tục hành chính.
"Cần hoàn thiện nhanh quy hoạch phát triển địa phương và liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển, đẩy mạnh hợp tác công – tư, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Từ đó, tạo nền tảng để các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới", PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh.