Hoàn thiện quy định về xuất nhập khẩu, sản xuất
Nghị định số 342/2026/NĐ-CP ngày 3/9/2026 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 18/10/2026.
Theo đó, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền xuất khẩu được xuất khẩu ra nước ngoài và khu vực hải quan riêng hàng hóa mua tại Việt Nam, hàng hóa đặt gia công tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam. Hàng hóa xuất khẩu không được thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu hoặc danh mục hàng hóa mà tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được quyền xuất khẩu theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trường hợp hàng hóa thuộc diện xuất khẩu theo giấy phép hoặc theo điều kiện, doanh nghiệp phải có giấy phép hoặc đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Tương tự, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền nhập khẩu được nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài và khu vực hải quan riêng vào Việt Nam, với điều kiện hàng hóa không thuộc danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc không được quyền nhập khẩu theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đối với hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép hoặc theo điều kiện, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu tương ứng.
Từ ngày 1/10/2026, Nghị định số 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo cũng chính thức có hiệu lực. Thương nhân muốn kinh doanh xuất khẩu gạo phải có ít nhất một kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát gạo đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Các cơ sở này có thể thuộc sở hữu của thương nhân hoặc được thuê bằng hợp đồng bằng văn bản, bảo đảm thời hạn theo quy định.
Thương nhân đã được cấp Giấy chứng nhận không được cho thương nhân khác thuê các kho, cơ sở xay xát đã được ghi trong Giấy chứng nhận để sử dụng làm điều kiện xin cấp giấy chứng nhận khác. Bộ Công Thương thực hiện cấp Giấy chứng nhận kinh doanh xuất khẩu gạo bằng bản giấy và bản điện tử khi áp dụng.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Nghị định số 344/2026/NĐ-CP ngày 4/9/2026 về ứng dụng khoa học, công nghệ và phát triển công nghiệp chế tạo trong lĩnh vực điện lực có hiệu lực từ ngày 20/10/2026. Văn bản quy định các chính sách ưu đãi chung đối với doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện phục vụ ngành điện lực, cơ chế đặt hàng và ưu đãi đối với sản phẩm thiết bị điện, thúc đẩy sử dụng sản phẩm, thiết bị và dịch vụ được sản xuất trong nước.
Nghị định cũng quy định chính sách hỗ trợ thử nghiệm, đánh giá, chứng nhận sản phẩm; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Tăng hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, trợ giúp xã hội
Một chính sách đáng chú ý có hiệu lực trong tháng 10 là việc nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Theo Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026, từ ngày 20/10/2026, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm, tăng từ mức 90%.
Đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc hộ nghèo, cận nghèo, mức hỗ trợ tối đa tăng từ 20% lên 50%. Tổ chức sản xuất nông nghiệp là doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được hỗ trợ tối đa 30% phí bảo hiểm khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Trong chính sách đối với người có công, Nghị định số 321/2026/NĐ-CP ngày 15/8/2026 có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.
Theo đó, mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng từ ngày 1/10/2026 là 3.012.000 đồng, thay cho mức 2.789.000 đồng theo Nghị định số 77/2024/NĐ-CP. Đây là mức căn cứ để tính trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân người có công.
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 về chính sách trợ giúp xã hội có hiệu lực từ ngày 5/10/2026. Mức chuẩn trợ giúp xã hội được nâng lên 540.000 đồng/tháng, thay cho mức 360.000 đồng/tháng trước đây.
Mức chuẩn mới là căn cứ xác định trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác. Từ ngày 5/10/2026, mức hưởng trợ cấp hưu trí xã hội cũng tăng từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng.
Thay đổi quy định về thi đua, khen thưởng
Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25/9/2026 của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng.
Đáng chú ý, tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo các trường hợp quy định tại điểm b, c và d khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng không quá 10% trong tổng số cá nhân đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”. Quy định này không áp dụng đối với cá nhân được xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Luật.
Các chính sách có hiệu lực trong tháng 10/2026 trải rộng từ hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu đến hỗ trợ sản xuất, an sinh xã hội và thi đua, khen thưởng, tạo cơ sở pháp lý mới cho doanh nghiệp, người sản xuất và các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định.