Thể chế hóa chủ trương của Đảng
Bên cạnh định hướng chung trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, ngành xuất bản được Đảng quan tâm chỉ đạo với Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17-3-2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Chỉ thị số 04-CT/TW xác định vị trí của hoạt động xuất bản là lĩnh vực tư tưởng văn hóa sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân; đồng thời là ngành kinh tế-công nghệ giữ vai trò hạt nhân trong hệ sinh thái kiến tạo giá trị. Một điểm mới trong Chỉ thị số 04-CT/TW là nêu bật vai trò của xuất bản là công cụ trụ cột trong giáo dục-đào tạo và là công cụ góp phần khẳng định, phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.
Việc Ban Soạn thảo sửa đổi một số câu từ của Điều 6 (Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản) và sửa toàn bộ Điều 7 (Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản) có ý nghĩa trực tiếp trong việc thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng. Chẳng hạn, trong điểm a, khoản 2, Điều 7 của dự thảo nêu rõ vai trò của Nhà nước là hỗ trợ đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại để phát triển nhà xuất bản, hình thành các nhà xuất bản, tổ hợp, tập đoàn xuất bản-truyền thông chủ lực quốc gia, đa nền tảng, đa sản phẩm. Không chỉ cho phép hình thành tổ hợp, tập đoàn xuất bản-truyền thông hứa hẹn đưa xuất bản trở thành ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn; dự thảo còn xác định rõ Nhà nước không đứng ngoài cuộc, quyết tâm đưa mô hình mới mẻ này trở thành hiện thực.
Chỉ thị số 04-CT/TW yêu cầu ngành xuất bản phải chuyển đổi số sâu rộng. Từ quan điểm nêu trên, dự thảo Luật Xuất bản bổ sung nội dung quản lý về chuyển đổi số trong hoạt động xuất bản, bao gồm hạ tầng công nghệ, nền tảng số, dữ liệu xuất bản và quản lý hoạt động trên môi trường số. Bổ sung chính sách ưu tiên đầu tư, phát triển hạ tầng, nền tảng công nghệ, dữ liệu xuất bản; khuyến khích phát triển nội dung số và xuất bản điện tử. Hoàn thiện quy định về xuất bản điện tử, phát hành trên môi trường số, nền tảng trung gian và xuất bản đa phương tiện. Đáng chú ý, trong Điều 45 (Điều kiện xuất bản và phát hành xuất bản phẩm trên môi trường điện tử), điểm b khoản 1 đã bắt buộc nhà xuất bản thực hiện xuất bản điện tử phải có hệ thống quản lý, kiểm soát nội dung, bảo đảm nhà xuất bản thực hiện biên tập, quyết định xuất bản và chịu trách nhiệm về nội dung xuất bản phẩm điện tử.
Đồng chí Phan Tâm, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhấn mạnh: Phạm vi sửa đổi Luật Xuất bản lần này được xác định là sửa đổi, bổ sung một số điều, không thay thế toàn diện, đòi hỏi phải lựa chọn đúng cách tiếp cận, tập trung xử lý những vấn đề thực sự là điểm nghẽn. Với cách tiếp cận đó, việc thể chế hóa cần được nhìn nhận theo các nhóm nội dung định hướng lớn, có tính liên kết, thay vì xử lý rời rạc từng vấn đề. Luật sẽ tập trung xác lập các nguyên tắc nền tảng; còn các nội dung cụ thể, có tính kỹ thuật hoặc biến động nhanh, sẽ giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt theo đúng tinh thần kỹ thuật lập pháp hiện nay là xây dựng luật khung.
Thu hút nguồn lực xã hội hóa
Kinh nghiệm các quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa đều nhấn mạnh đến vai trò rường cột của kinh tế tư nhân. Muốn dẫn dòng vốn khổng lồ tư nhân vào các ngành công nghiệp văn hóa, đòi hỏi chính sách ưu đãi thích đáng, sát thực tế. Hiện nay đa phần doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất bản phẩm thuộc loại hình nhỏ và vừa. Muốn dòng vốn khổng lồ của tư nhân đầu tư vào xuất bản, rõ ràng không chỉ ủng hộ, khuyến khích bằng lời nói.
Luật Xuất bản năm 2012 có Điều 23 quy định về liên kết xuất bản để hình thức hợp tác này phát huy mặt tích cực và hạn chế tiêu cực. Đối tác liên kết xuất bản không nhận được bất cứ ưu đãi nào, trong khi đây là lực lượng góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành xuất bản trong suốt nhiều năm qua. Do vậy, thiết nghĩ trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, cần nhấn mạnh ưu đãi cho đối tác liên kết xuất bản. Đành rằng, luật không thể quy định quá chi tiết, song nên dùng từ “ưu đãi” thay vì chỉ là “khuyến khích”. Chẳng hạn, nếu khối tư nhân đầu tư thực hiện các xuất bản phẩm có nội dung chất lượng, lành mạnh về khoa học-công nghệ - mảng sách chưa phát triển mạnh ở nước ta thì cần có ưu đãi cụ thể như đặt hàng, tài trợ, quảng bá...
Tóm lại, trong bất cứ một chính sách nào của Nhà nước đối với ngành xuất bản, không nên có sự phân biệt công-tư. Cần có chính sách chung để đơn vị làm xuất bản nếu có năng lực, tâm huyết thì phải được hỗ trợ tương đương.
Trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam khi không có nhà xuất bản tư nhân, việc ra đời và phát triển mô hình tổ hợp, tập đoàn xuất bản-truyền thông, vai trò của nhà xuất bản vẫn là trụ cột. Song, Nhà nước lại không thể bao cấp hoàn toàn, do vậy đòi hỏi cần đẩy mạnh hợp tác công-tư. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực xuất bản cho rằng, cần có một số quy định cho phép tư nhân cùng tham gia xây dựng tổ hợp, tập đoàn xuất bản-truyền thông. Chỉ khi có sự gắn bó về lợi ích, các quỹ đầu tư, tập đoàn lớn mới đầu tư vào lĩnh vực xuất bản. Đây chính là cơ hội vàng khai thác dư địa phát triển, đưa ngành xuất bản phát triển vượt bậc trong kỷ nguyên mới, trở thành ngành nghề có doanh thu tỷ đô-la.