Chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, doanh nghiệp Việt đứng trước cơ hội mới

Chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc dưới tác động của địa chính trị, chính sách thương mại, công nghệ và yêu cầu phát triển xanh. Đây là cơ hội để Việt Nam thu hút thêm đầu tư, đơn hàng và công đoạn sản xuất, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, từ công nghệ, nhân lực đến khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Ngày 18/9 tại Hà Nội, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”, nhằm góp phần triển khai các mục tiêu tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 8/1/2026 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

tai-chinh-doanh-nghiep-1789720937.jpg
Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”. Ảnh: BTC.

Phát biểu khai mạc, TS. Hà Khắc Minh - Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp cho biết, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục điều chỉnh mạnh dưới tác động của thay đổi địa chính trị, chính sách thương mại, công nghệ, xu hướng xanh hóa và yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Theo TS. Hà Khắc Minh, quá trình này vừa đặt ra những thách thức mới, vừa mở ra cơ hội để các quốc gia và doanh nghiệp tái định vị trong mạng lưới sản xuất, thương mại toàn cầu. Đối với Việt Nam, sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng tạo cơ hội thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ, cải thiện quản trị và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao.

Chia sẻ về xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng và tác động đối với Việt Nam, TS. Nguyễn Anh Dương - Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược cho biết, Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tích cực trong thu hút FDI. Năm 2025, Singapore dẫn đầu về vốn đăng ký với 6,98 tỷ USD, tiếp đến là Trung Quốc 5,19 tỷ USD và Hàn Quốc 4,20 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các đối tác đầu tư chính gồm Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Trung Quốc và Nhật Bản.

ts-nguyen-anh-duong-1789720937.jpg
TS. Nguyễn Anh Dương - Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược. Ảnh: BTC.

Theo ông Dương, dòng vốn FDI, đặc biệt từ khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, cải thiện liên kết kinh tế và hỗ trợ Việt Nam thực hiện hiệu quả hơn các hiệp định thương mại tự do.

Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với những thách thức từ chính sách thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ từ năm 2025, các tiêu chí kỹ thuật liên quan đến đầu vào “từ một nền kinh tế thứ ba”, nguy cơ cạnh tranh “đua xuống đáy” trong ASEAN và tình trạng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước chưa đạt như kỳ vọng.

TS. Nguyễn Anh Dương cho rằng, cần chuyển từ tư duy thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn có chọn lọc, ưu tiên những dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và có khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước. Cùng với đó là phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực logistics, hạ tầng số, năng lượng, tăng cường quản lý rủi ro về xuất xứ hàng hóa và phòng vệ thương mại.

Mục tiêu là hình thành hệ sinh thái sản xuất có khả năng chống chịu tốt hơn, đa dạng hóa thị trường và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.

Tại diễn đàn, TS. Đỗ Diệu Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, song tăng trưởng thương mại và xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nước nâng cao tương ứng vị thế và khả năng tạo giá trị trong chuỗi.

ts-do-dieu-huong-1789720937.jpg
TS. Đỗ Diệu Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới. Ảnh: BTC.

Theo TS. Đỗ Diệu Hương, yêu cầu đối với nhà cung cấp hiện không chỉ dừng ở chất lượng, giá thành và tiến độ giao hàng mà đang mở rộng sang dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, môi trường, lao động và quản trị rủi ro.

Từ đó, bà đề xuất cách tiếp cận “khoảng cách tiêu chuẩn”, được hiểu là khoảng cách giữa năng lực hiện có của doanh nghiệp với năng lực cần thiết để đáp ứng, chứng minh và duy trì yêu cầu của một thị trường, chuỗi cung ứng hoặc doanh nghiệp dẫn dắt cụ thể.

Việc nhận diện chính xác khoảng cách này sẽ giúp doanh nghiệp xác định những nội dung cần đầu tư, từ công nghệ, quản trị, nhân lực, tiêu chuẩn chất lượng đến dữ liệu và môi trường, thay vì đầu tư dàn trải.

Từ góc độ chính sách thuế, bà Lê Thị Duyên Hải - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA) cho rằng, trọng tâm cần được chuyển từ “thu hút đầu tư vào Việt Nam” sang “nâng cấp năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu”.

Theo bà, chính sách thuế không chỉ nhằm giảm nghĩa vụ thuế mà quan trọng hơn là tạo động lực để doanh nghiệp thay đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới chuỗi kết quả “Công nghệ – R&D – Nhân lực – Chuỗi cung ứng – Thị trường toàn cầu”.

Bà Hải cho biết hệ thống chính sách thuế trong nhiều năm qua đã tạo động lực cho phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, đổi mới công nghệ và thúc đẩy xuất khẩu thông qua các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, hoàn thuế đối với dự án đầu tư và xuất khẩu, miễn giảm tiền thuê đất.

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 tiếp tục thiết kế nhiều chính sách ưu đãi đối với khoa học, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, chip bán dẫn, trung tâm dữ liệu AI, sản phẩm số và năng lượng sạch, với thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm đối với một số lĩnh vực. Nghị định số 320/2025/NĐ-CP và Thông tư số 20/2026/TT-BTC cũng có cơ chế cho phép chi phí R&D của doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ tối đa không quá 200% chi phí thực tế đủ điều kiện.

Tuy nhiên, theo bà Hải, một số chính sách ưu đãi nếu thiết kế chưa gắn với kết quả đầu ra có thể chưa tạo đủ động lực để doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nâng năng suất, xuất khẩu hay nội địa hóa. Do đó, chính sách thuế cần hướng doanh nghiệp tới việc nâng cao năng lực thực chất thay vì chỉ tạo lợi thế về chi phí trong một thời gian nhất định.

ba-le-thi-duyen-hai-1789720936.jpg
Bà Lê Thị Duyên Hải - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA). Ảnh: BTC.

Phó Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam đề xuất nghiên cứu cơ chế ưu đãi thuế cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu dựa trên các tiêu chí về cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho tập đoàn đa quốc gia, tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, đầu tư R&D và năng lực quản trị. Các chính sách cần gắn với kết quả đầu ra, đồng thời bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế.

Một trong những hướng được đề cập là xây dựng chính sách “Doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng”, trong đó doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí về doanh thu từ cung ứng cho tập đoàn đa quốc gia, tỷ lệ nội địa hóa, tiêu chuẩn chất lượng và đầu tư R&D có thể được hưởng ưu đãi trong thời hạn nhất định.

Bên cạnh đó, chính sách thuế có thể tiếp tục khuyến khích đầu tư vào R&D, AI, tự động hóa và chuyển đổi số; thúc đẩy khấu hao nhanh đối với máy móc, robot, thiết bị AI, thiết bị tiết kiệm năng lượng và hệ thống sản xuất thông minh; đồng thời tăng ưu đãi cho công nghiệp hỗ trợ trong các lĩnh vực như điện tử, bán dẫn, ô tô, cơ khí chính xác, dệt may, da giày, thiết bị y tế, năng lượng và logistics.

Đối với doanh nghiệp tiếp nhận đơn hàng mới do chuỗi cung ứng dịch chuyển vào Việt Nam, bà Hải cho rằng có thể nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ về khấu hao tài sản, tín dụng thuế đối với đầu tư máy móc và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập tăng thêm, trên cơ sở đáp ứng các điều kiện cụ thể về công suất, lao động kỹ thuật, doanh thu xuất khẩu hoặc cung ứng cho khu vực FDI.

Cùng với đó, cải cách hoàn thuế giá trị gia tăng theo mức độ tuân thủ và rủi ro, mở rộng chính sách miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với công nghệ, máy móc và nguyên liệu trong nước chưa sản xuất được, cũng như có cơ chế khuyến khích đào tạo nhân lực kỹ thuật cao được xem là những giải pháp có thể hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực.

chuoi-cung-ung-toan-cau-1789720937.jpg
Các đại biểu trao đổi, thảo luận tại diễn đàn. Ảnh: BTC.

Diễn đàn cũng tạo không gian để cơ quan quản lý, tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia và các cơ sở nghiên cứu trao đổi về những thay đổi của chuỗi cung ứng toàn cầu, chính sách hỗ trợ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI, nâng tỷ lệ nội địa hóa và hình thành các chuỗi liên kết sản xuất có giá trị gia tăng cao.

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc, cơ hội đối với Việt Nam không chỉ nằm ở việc đón thêm dòng vốn hay đơn hàng dịch chuyển mà còn ở khả năng nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp có thể đáp ứng và duy trì các tiêu chuẩn ngày càng cao, cơ hội tham gia sâu hơn, trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn đa quốc gia và từng bước nâng cao giá trị trong chuỗi sẽ rộng mở hơn.