Hiện thực hóa chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về xây dựng đại học tinh hoa

z7998832386729-81be24ff817bb1fc789a5b85f8382200-1782964642.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 và tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh một trong những nội dung quan trọng là: yêu cầu tập trung đổi mới giáo dục đại học, xây dựng các đại học tinh hoa và trung tâm đào tạo xuất sắc.

Trong chiến lược mới, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam sẽ được quy hoạch theo sứ mạng và mục tiêu phát triển, hình thành các nhóm chức năng khác nhau như đại học tinh hoa, đại học trọng điểm và đại học định hướng phục vụ đại chúng, nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu của quốc gia, thị trường lao động và xã hội. Trong cấu trúc đó, đại học tinh hoa phải trở thành trung tâm tạo lập tri thức, công nghệ, nhân lực chiến lược và năng lực đổi mới sáng tạo cho đất nước.

Đại học tinh hoa là những cơ sở giáo dục đại học có năng lực dẫn dắt sự phát triển tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời đóng vai trò quan trọng của quốc gia.

Đó là nơi đào tạo các nhà khoa học, nhà giáo dục, chuyên gia công nghệ, doanh nhân đổi mới sáng tạo, nhà hoạch định chính sách và đội ngũ lãnh đạo tương lai.

Đồng thời, là nơi tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, phương thức phát triển mới và năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế. Vì vậy, phát triển đại học tinh hoa ở Việt Nam phải là một lựa chọn chiến lược quốc gia.

Từ đó, có một số đại học đủ mạnh để nâng cấp năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch hay công nghệ lượng tử.

Điều kiện cốt lõi để hình thành đại học tinh hoa

Muốn hình thành đại học tinh hoa, không thể chỉ giao chỉ tiêu rồi kỳ vọng các trường tự vươn lên. Cần có một hệ điều kiện đồng bộ, ổn định và đủ mạnh.

Điều kiện thứ nhất là năng lực lãnh đạo và quản trị đại học. Không có đại học tinh hoa nào được xây dựng nếu thiếu những nhà lãnh đạo đại học có tầm nhìn. Đội ngũ quản trị này cần năng lực quản lý, tư duy học thuật, năng lực chiến lược, khả năng thiết kế thể chế và năng lực kết nối nguồn lực trong nước, quốc tế.

Đại học hiện đại không còn là một đơn vị đào tạo sự nghiệp, mà là một tổ chức sáng tạo tri thức, chuyển từ quản lý tuân thủ sang quản trị chiến lược, từ vận hành theo thủ tục sang kiến tạo môi trường học thuật và đổi mới sáng tạo.

Điều kiện thứ hai là đội ngũ học giả có năng lực dẫn dắt. Đại học mạnh được xây dựng trên nền tảng những học giả mạnh. Việt Nam cần hình thành được đội ngũ nhà khoa học đầu đàn có năng lực quốc tế, có khả năng dẫn dắt các nhóm nghiên cứu lớn, phát triển trường phái học thuật, thiết kế chương trình nghiên cứu dài hạn và đào tạo thế hệ kế cận.

Điều kiện thứ ba là cơ chế đầu tư dài hạn, cần thời gian tích lũy trong nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu công nghệ lõi.

Các quốc gia thành công thường chuyển từ tư duy đầu tư theo từng nhiệm vụ rời rạc sang cơ chế tài trợ chiến lược dài hạn, trong đó có block funding (cấp vốn trọn gói) cho các đại học nòng cốt, kết hợp với quỹ cạnh tranh dựa trên chất lượng.

Chỉ khi có nguồn lực ổn định trong 5 đến 10 năm, các trường mới có thể chủ động thu hút nhân tài, xây dựng phòng thí nghiệm mạnh, phát triển nhóm nghiên cứu liên ngành và theo đuổi những vấn đề khoa học lớn.

Điều kiện thứ tư là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đại học. Đại học tinh hoa trong thời đại mới cần có các trung tâm nghiên cứu liên ngành, văn phòng chuyển giao công nghệ, trung tâm ươm tạo, quỹ đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp spin-off, mạng lưới cố vấn, đối tác doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng.

Đây chính là tinh thần của mô hình đại học vừa tạo ra tri thức mới, vừa chuyển hóa tri thức thành công nghệ, chính sách, sản phẩm, doanh nghiệp, tiêu chuẩn kỹ thuật và tác động xã hội.

Điều kiện thứ năm là tự chủ thực chất đi đôi với trách nhiệm giải trình. Đó là không gian tự chủ về học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế, đi cùng trách nhiệm giải trình dựa trên chất lượng, hiệu quả và tác động. Nhà nước cần chuyển từ kiểm soát đầu vào và thủ tục sang đặt hàng chiến lược, đánh giá kết quả và kiến tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Nói gọn lại, đại học tinh hoa không chỉ là đại học có thứ hạng tốt, mà là đại học có mức độ tự chủ cao và được vận hành dựa trên bốn trụ cột: lãnh đạo có tầm nhìn, học giả có năng lực dẫn dắt, tài chính dài hạn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh. Thiếu một trong bốn trụ cột này, đại học khó vượt khỏi vai trò đào tạo thông thường để trở thành một thiết chế tri thức có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Bên cạnh đó, nâng cao năng lực nghiên cứu và công bố quốc tế là một định hướng đúng, cần được quán triệt trong quá trình phát triển giáo dục đại học, khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu đúng mục tiêu của việc đầu tư cho nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học.

Trước hết, có thể coi công bố quốc tế là một thước đo năng lực nghiên cứu, nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu. Bản chất của đại học nghiên cứu là tạo ra tri thức mới. Khi đại học có năng lực nghiên cứu mạnh, chất lượng đào tạo cũng sẽ thay đổi. Trước hết, trình độ chuyên môn của giảng viên được nâng cao. Quan trọng hơn, sinh viên không chỉ học lại tri thức có sẵn, mà còn được tham gia vào môi trường sản sinh tri thức. Đây mới là nền tảng sâu sắc của nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tuy nhiên, trong mô hình đại học tinh hoa hiện đại, nghiên cứu cơ bản không tách rời đổi mới sáng tạo. Vấn đề không phải là lựa chọn giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, mà là xây dựng một chuỗi liên thông từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, thử nghiệm, chuyển giao, thương mại hóa đến tạo tác động xã hội. Đây chính là điểm khác biệt so với cách hiểu hẹp về đại học nghiên cứu hoặc đại học khởi nghiệp.

Vì vậy, đầu tư cho nghiên cứu và công bố quốc tế cần được đặt trong một mục tiêu lớn hơn: xây dựng năng lực sáng tạo của quốc gia. Công bố quốc tế giúp đại học Việt Nam tham gia vào cộng đồng học thuật toàn cầu, nhưng mục tiêu sâu hơn là tạo ra học giả mạnh, nhóm nghiên cứu mạnh, công nghệ lõi, doanh nghiệp công nghệ, tư vấn chính sách chất lượng cao và năng lực cạnh tranh dài hạn cho đất nước.

Các điểm nghẽn lớn trong phát triển đại học tinh hoa

Cho đến thời điểm này, điểm nghẽn lớn nhất là chúng ta chưa thật sự xây dựng được một hệ sinh thái phát triển đại học nghiên cứu và đại học khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đúng nghĩa.

Điểm nghẽn đầu tiên là tư duy quản trị đại học vẫn còn chậm đổi mới. Nhiều cơ sở giáo dục vẫn vận hành theo logic hành chính nhiều hơn logic học thuật. Trong khi đó, cạnh tranh đại học ngày nay thực chất là cạnh tranh về chiến lược, con người, tri thức, công nghệ và năng lực kết nối, nhằm tạo ra môi trường cho sáng tạo học thuật và đổi mới sáng tạo.

Một trở ngại hiện tại là Việt Nam đang thiếu đội ngũ học giả đầu đàn. Chúng ta đã có nhiều nhà khoa học giỏi, nhưng số lượng học giả có khả năng dẫn dắt các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo ảnh hưởng quốc tế trong thiết kế các chương trình nghiên cứu chiến lược vẫn còn hạn chế. Đây là khoảng trống rất lớn. Một đại học tinh hoa phải được xây dựng quanh các nhà khoa học lớn, các nhóm nghiên cứu mạnh và các trường phái học thuật có sức sống lâu dài.

Điểm nghẽn tiếp theo là cơ chế đầu tư cho nghiên cứu còn phân tán, ngắn hạn và thiếu tích lũy, trong khi những hướng nghiên cứu lớn thường cần thời gian dài, chấp nhận rủi ro học thuật và đòi hỏi đầu tư liên tục. Nếu không có cơ chế tài trợ dài hạn, rất khó hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các phòng thí nghiệm mạnh và công nghệ có khả năng cạnh tranh.

Khó khăn nữa là liên kết giữa đại học với doanh nghiệp, địa phương và Nhà nước chưa đủ chặt chẽ, chưa tạo thành một hệ sinh thái đồng sáng tạo. Điểm nghẽn cuối cùng là chúng ta chưa xác định đầy đủ các thước đo thành công của đại học tinh hoa và phải được đo bằng năng lực tạo ra nhân tài, tri thức mới, công nghệ mới, doanh nghiệp mới, chính sách tốt hơn và tác động phát triển sâu rộng hơn.

Phát triển đại học tinh hoa ở Việt Nam thực chất không phải là câu chuyện riêng của ngành giáo dục. Đó là chiến lược xây dựng năng lực tri thức quốc gia. Muốn đi xa, Việt Nam phải đầu tư đúng vào lãnh đạo đại học, các nhà khoa học đầu đàn, nghiên cứu cơ bản thực chất, cơ chế tài trợ dài hạn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đại học.