Mở rộng cơ hội hành nghề luật sư cho viên chức đi kèm cơ chế kiểm soát

Một trong những điểm mới đáng chú ý trong chính sách sửa đổi Luật Luật sư lần này là quy định viên chức giảng dạy tại các cơ sở đào tạo về pháp luật có thể trở thành luật sư khi bảo đảm một số điều kiện nhất định.
luat-su-1-4456-1773908814.jpg
Các luật sư tham gia hành nghề tại một phiên tòa. (Ảnh: TL)

Chất lượng luật sư chưa tương xứng với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn

Theo Bộ Tư pháp, từ khi Luật Luật sư được ban hành, hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động luật sư đã từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý quan trọng giúp đội ngũ luật sư và các tổ chức hành nghề phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển kinh tế-xã hội.

Tuy nhiên, quá trình triển khai Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) cho thấy nhiều hạn chế, bất cập cần sớm được khắc phục. Nổi bật là chất lượng đội ngũ luật sư chưa đồng đều, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn, đồng thời chưa tạo dựng được niềm tin vững chắc từ phía người dân, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước. Một số luật sư phẩm chất đạo đức, ý thức tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp còn hạn chế.

luat-su-1-4456-1-1773908908.jpg
Các luật sư tham gia hành nghề tại một phiên tòa. (Ảnh: TL)

Bên cạnh đó, sự phân bố luật sư chưa hợp lý, khi số lượng luật sư tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa còn rất hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý của người dân. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư cũng còn những điểm cần hoàn thiện.

Đáng chú ý, nhiều nội dung quan trọng của Luật hiện hành hoặc chưa được quy định, hoặc đã quy định nhưng còn chung chung, thiếu cụ thể, dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất, thậm chí không còn phù hợp với bối cảnh phát triển mới. Trong đó có các vấn đề như khái niệm luật sư, chế định tập sự hành nghề, phạm vi và loại hình dịch vụ pháp lý, tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề, cũng như cơ chế phát triển các tổ chức hành nghề luật sư theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế…

Vì vậy, việc xây dựng chính sách để ban hành Luật Luật sư (sửa đổi) nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi kỹ năng hành nghề, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế; đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển tổ chức và hoạt động của luật sư phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, thông lệ quốc tế trong tình hình mới.

Đề xuất mở rộng đối tượng viên chức được tham gia hành nghề luật sư

Một trong những điểm mới trong chính sách sửa đổi Luật Luật sư lần này là quy định viên chức giảng dạy tại các cơ sở đào tạo về pháp luật có thể trở thành luật sư khi bảo đảm một số điều kiện nhất định như không ảnh hưởng đến công việc, thời gian công tác, xác định rõ phạm vi công việc, không phải là người đứng đầu cơ sở đào tạo...

Theo ông Nguyễn Minh Khuê, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), việc sửa đổi toàn diện Luật Luật sư là cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và xây dựng hành lang pháp lý minh bạch, thống nhất cho hoạt động luật sư trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đáng chú ý, việc mở rộng điều kiện hành nghề theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ Chính trị – “nghiên cứu cơ chế có điều kiện cho phép viên chức được hành nghề luật sư” – được xem là bước đi mới nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao và nâng cao hiệu quả dịch vụ pháp lý.

Tuy nhiên, theo ông Khuê, quy định hiện nay vẫn còn “bó hẹp” khi chỉ giới hạn trong đội ngũ viên chức giảng dạy tại các cơ sở đào tạo pháp luật. Ông đề xuất cần mở rộng đối tượng, bao gồm cả viên chức tại các cơ sở nghiên cứu pháp luật và đội ngũ quản lý, nhằm tận dụng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tiễn.

pgs-minh-hang-9066-1773908951.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp. (Ảnh: Song An)

 Cùng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp cho rằng không nên loại trừ người đứng đầu các cơ sở đào tạo tư pháp (viên chức quản lý) được hành nghề luật sư, bởi đây là lực lượng có năng lực chuyên môn.

Ở góc độ nghiên cứu và thực tiễn, Tiến sĩ Phạm Thị Hương Lan, Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật (Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) nhận định, việc chỉ cho phép viên chức giảng dạy hành nghề luật sư vô hình trung thu hẹp cơ hội của các nhà nghiên cứu pháp luật – những người cũng đáp ứng đầy đủ điều kiện và có nhu cầu bổ sung trải nghiệm thực tiễn để phục vụ công tác nghiên cứu, tư vấn chính sách. Thực tế cho thấy, thời gian qua, Trung tâm Tư vấn pháp luật của Viện đã tham gia tích cực vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho cơ quan nhà nước và người dân. Do đó, bà đề xuất mở rộng đối tượng viên chức được hành nghề luật sư theo đúng tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW, đồng thời phù hợp với nguyên tắc của Luật Viên chức là “ viên chức được làm những gì pháp luật không cấm”.

Tuy vậy, ở một khía cạnh khác, đại diện Vụ Pháp chế, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao lưu ý cần thận trọng khi thiết kế chính sách. Viên chức là đối tượng chịu sự quản lý chặt chẽ về kỷ luật công vụ, thời gian làm việc và trách nhiệm chuyên môn, do đó việc cho phép đồng thời hành nghề luật sư có thể phát sinh rủi ro trong kiểm soát thời gian, sử dụng nguồn lực công. Bên cạnh đó, cần làm rõ nội hàm quy định “có thể trở thành luật sư” – là được tham gia quy trình hay được miễn, giảm một số bước để bảo đảm tính minh bạch và công bằng. Nếu không có cơ chế đặc thù, các đối tượng này vẫn phải tuân thủ đầy đủ quy trình đào tạo, tập sự và đánh giá theo quy định chung.

Trường hợp tiếp tục duy trì quy định cho phép kiêm nhiệm, đại điện cơ quan này đề nghị bổ sung các ràng buộc cụ thể như: không làm ảnh hưởng nhiệm vụ chính; thực hiện nghĩa vụ báo cáo, công khai hoạt động kiêm nhiệm; giới hạn phạm vi vụ việc được tham gia; không nhận các vụ việc liên quan trực tiếp đến cơ quan, đơn vị, người học hoặc các quan hệ lợi ích liên quan; đồng thời thiết lập chế tài xử lý nghiêm vi phạm để bảo đảm tính khả thi.

Có thể thấy, chủ trương mở rộng điều kiện hành nghề luật sư cho viên chức là bước đi phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để chính sách đi vào cuộc sống, vấn đề không chỉ nằm ở việc “mở rộng đến đâu” mà hoạt động hiệu quả như thế nào. Một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, minh bạch, đi kèm cơ chế kiểm soát hiệu quả sẽ là yếu tố quyết định để vừa phát huy được nguồn lực trí tuệ trong khu vực công, vừa nâng cao chất lượng, đồng thời bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề luật sư.