Trao đổi với phóng viên, PGS, TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) đã đánh giá những chuyển biến tích cực trong tư duy phát triển cũng như môi trường chính sách sau hơn một năm triển khai thực hiện nghị quyết.
Phóng viên (PV): Thưa ông, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị được xem là một bước ngoặt trong tư duy phát triển. Sau hơn một năm kể từ khi nghị quyết được ban hành, ông đánh giá như thế nào về những chuyển biến của khu vực kinh tế tư nhân?
PGS, TS Nguyễn Thường Lạng: Nghị quyết số 68-NQ/TW đã tạo ra một dấu mốc quan trọng trong tư duy phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là cách nhìn nhận đối với khu vực kinh tế tư nhân. Nếu như trước đây, khu vực tư nhân thường được xem như một thành phần hỗ trợ cho nền kinh tế, thì nay đã được xác định rõ là một động lực quan trọng của tăng trưởng. Sự thay đổi trong nhận thức này mang ý nghĩa rất lớn, bởi khi tư duy thay đổi thì chính sách, cách điều hành và môi trường phát triển cũng sẽ thay đổi theo hướng tích cực hơn.
Sau một năm triển khai, tôi cho rằng điều dễ nhận thấy nhất là niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân đã được củng cố đáng kể. Nhiều doanh nghiệp cảm nhận rõ hơn thông điệp đồng hành của Đảng và Nhà nước đối với khu vực tư nhân. Đây là yếu tố rất quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều áp lực như suy giảm nhu cầu thị trường, chi phí đầu vào tăng cao, cạnh tranh quốc tế ngày càng lớn và những biến động khó lường của kinh tế thế giới.
Bên cạnh yếu tố niềm tin đã xuất hiện những chuyển biến tích cực trong cải cách thể chế và môi trường đầu tư kinh doanh. Một số bộ, ngành và địa phương đã chủ động rà soát thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết, thúc đẩy chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp. Tinh thần kiến tạo và phục vụ doanh nghiệp đã được nhấn mạnh mạnh mẽ hơn trong hoạt động quản lý nhà nước.
PV: Đã có những chuyển biến nào mang tính đột phá như kỳ vọng chưa, thưa ông?
PGS, TS Nguyễn Thường Lạng: Nếu nói về những chuyển biến mang tính đột phá đúng như kỳ vọng của Nghị quyết số 68-NQ/TW thì theo tôi, chúng ta đã có tín hiệu tích cực nhưng chưa thể nói là đã đạt tới mức đột phá toàn diện. Điều này cũng dễ hiểu bởi quá trình thay đổi tư duy quản lý, cải cách thể chế và nâng cao năng lực của doanh nghiệp cần thời gian đủ dài để tạo ra hiệu ứng rõ nét.
Tuy nhiên, vẫn có một số điểm đáng chú ý có thể xem là bước chuyển quan trọng. Trước hết là sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân. Hiện nay, nhiều địa phương đã chủ động hơn trong việc thu hút và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân thay vì chỉ tập trung vào khu vực đầu tư công hay doanh nghiệp FDI như trước.
Một chuyển biến đáng chú ý khác là tinh thần cải cách hành chính và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước đã được thúc đẩy nhanh hơn. Nhiều thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp, kê khai thuế, hải quan hay cấp phép đầu tư đã được thực hiện trực tuyến, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, khu vực doanh nghiệp tư nhân cũng đang có những bước tiến đáng kể về quy mô và năng lực cạnh tranh. Một số tập đoàn tư nhân Việt Nam đã tham gia vào các lĩnh vực trước đây vốn được xem là sân chơi của doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp nước ngoài như hạ tầng, logistics, công nghệ, hàng không, công nghiệp chế biến hay năng lượng tái tạo.
Chúng ta đã đi đúng hướng và đã có những chuyển biến tích cực, nhưng để tạo ra đột phá đúng nghĩa thì cần một giai đoạn quyết liệt hơn trong cải cách thể chế, nâng cao chất lượng thực thi chính sách và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững.
PV: Trong thời gian tới, đâu là ưu tiên trọng tâm cần thực hiện để đạt mục tiêu phát triển doanh nghiệp theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, thưa ông?
PGS, TS Nguyễn Thường Lạng: Để đạt được mục tiêu phát triển doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, ưu tiên quan trọng nhất trong thời gian tới vẫn là hoàn thiện thể chế và tạo lập môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, minh bạch và ổn định cho khu vực kinh tế tư nhân.
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp hiện nay không chỉ thiếu vốn hay thiếu thị trường, mà điều họ lo ngại nhất là sự thiếu ổn định và tính dự đoán của chính sách. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, loại bỏ những quy định chồng chéo, giảm chi phí tuân thủ và bảo đảm tính nhất quán giữa các luật liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, đấu thầu và kinh doanh.
Một ưu tiên rất quan trọng khác là nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn lớn trong tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm hoặc chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn. Vì vậy, cần phát triển mạnh hơn các quỹ bảo lãnh tín dụng, thị trường vốn, quỹ đầu tư mạo hiểm và các cơ chế hỗ trợ tài chính phù hợp với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng hiện đại hơn. Điều này không chỉ dừng ở hỗ trợ thủ tục hành chính mà còn bao gồm hỗ trợ chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, đào tạo quản trị, phát triển thương hiệu và kết nối thị trường quốc tế. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, doanh nghiệp Việt Nam muốn phát triển bền vững thì phải nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh dựa trên công nghệ và đổi mới sáng tạo.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!