Du lịch “tiếp sức” cho làng nghề

Hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề đang tạo nên một nguồn tài nguyên dồi dào, giàu bản sắc cho du lịch Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nhu cầu của du khách chuyển dần từ tham quan, mua sắm sang tìm hiểu đời sống bản địa.
1788582672900-2279000118920268600-772850069426915105-0128773796abdd2e5325f9f549b78380-1788582709.jpg
Sắc màu thổ cẩm rực rỡ ở chợ phiên Si Ma Cai (Lào Cai) là điểm nhấn thu hút khách du lịch. (Ảnh: THI PHONG)

Tuy nhiên, lượng khách hay số điểm đến được đưa vào tour mới chỉ là bước đầu, du lịch làng nghề chỉ thật sự bền vững khi người giữ nghề được hưởng lợi và tiếp thêm sức sống cho chính nơi đã khai sinh ra nghề.

Sản phẩm du lịch từ làng nghề

Đến với làng gốm Bát Tràng, nhiều du khách muốn trải nghiệm cảm giác của người thợ khi trực tiếp ngồi trước bàn xoay, tự tay nặn một sản phẩm, hoặc quan sát cách pha đất, tráng men, tìm hiểu các công đoạn của một quy trình làm gốm.

Năm 2026, ngành du lịch Hà Nội thử nghiệm tour nông nghiệp-làng nghề mang tên “Dấu ấn gốm cổ làng xanh ven sông Hồng”, gắn trải nghiệm làm gốm với bữa cơm cùng các nghệ nhân và tìm hiểu về lịch sử của làng cổ ven sông.

Cùng với đó, nhiều sản phẩm mới đang được hoàn thiện, thử nghiệm như mô hình du lịch cộng đồng gắn với văn hóa dân tộc Mường tại Mỹ Đức; hay các tuyến du lịch trải nghiệm di sản, di tích tại Hạ Mỗ. Sự thay đổi ấy phần nào phản ánh một thị trường đang mở rộng cho làng nghề ở Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.

Những chuyển động gần đây cho thấy dư địa còn rất lớn. Tối 8/5, tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội đón nhận danh hiệu làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của Mạng lưới các Thành phố Thủ công Sáng tạo Thế giới, nâng tổng số làng nghề của Thủ đô trong mạng lưới này lên bốn, sau Bát Tràng và Vạn Phúc được công nhận năm 2024. Với thành tích này, Việt Nam vươn lên vị trí thứ hai thế giới về số làng nghề tham gia mạng lưới, chỉ sau Iran.

Ở những địa phương khác, làng nghề cũng tìm cách thức phù hợp để gắn với du lịch, thí dụ nghề dệt thổ cẩm của người Thái tại Nghệ An được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025, cùng lúc với việc hình thành vùng nguyên liệu và sinh kế cho người dân. Tại Ninh Bình, những địa chỉ như đá mỹ nghệ Ninh Vân, gốm Bồ Bát, thêu Văn Lâm cũng dần được nhiều đơn vị lữ hành đưa vào bản đồ tour.

Xu hướng tăng tính kết nối giữa các điểm đến tạo thành hành trình dài hơn, chẳng hạn những đề xuất gần đây mở tuyến kết nối Đông Bắc gồm Hà Nội-Bắc Ninh-Thái Nguyên (Tuyên Quang)-Quảng Ninh với điểm nhấn là trải nghiệm làng nghề chạm khắc Bắc Ninh, chè Tân Cương Thái Nguyên và gốm Đông Triều tại Quảng Ninh, mở thêm không gian để các sản phẩm thủ công trở thành một phần ý nghĩa của cả chuyến đi.

Tính đến cuối năm 2025, cả nước có khoảng 5.400 làng nghề và làng có nghề, trong đó 263 nghề truyền thống và 1.975 làng nghề đã được công nhận. Theo bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội, hiện nhiều nơi vẫn thiếu sản phẩm đủ đặc trưng, hoạt động trải nghiệm còn nghèo nàn và ít liên kết được với doanh nghiệp lữ hành. Thiếu những trải nghiệm đủ sâu, đặc trưng riêng của từng nghề rất dễ bị xóa nhòa, khó tạo sức hút lâu dài.

Khách đông lên không có nghĩa nghề truyền thống có cơ hội phát triển. Vì dịch vụ có thể sôi động, nhưng nếu người thợ giỏi chỉ nhận được phần rất nhỏ từ nguồn thu du lịch, lớp trẻ không muốn gắn bó lâu dài với nghề vì thu nhập thấp, không gian sản xuất ngày càng thu hẹp lại, thì sự nhộn nhịp bên ngoài chưa đủ mang lại sức sống lâu dài cho nghề truyền thống.

Nếu nôn nóng chạy theo nhu cầu tham quan, quy trình sản xuất cũng dễ bị giản lược, chỉ trình diễn những công đoạn dễ xem dễ bán, còn kỹ thuật khó và tri thức nghề thật sự, vốn mới là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn, lại ít có dịp được thể hiện.

Phó Cục trưởng Du lịch quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu từng lưu ý, bên cạnh những làng đã thành điểm đến hấp dẫn, không ít nghề truyền thống vẫn đứng trước nguy cơ mai một, mất dần tính nguyên bản.

Môi trường cũng là một phần của bài toán phát triển. Sản xuất ở một số làng nghề phát sinh khói bụi, nước thải, trong khi khách đông lại gây thêm áp lực lên giao thông và không gian sinh hoạt chung. Một điểm đến quảng bá trải nghiệm xanh khó thuyết phục nếu môi trường sản xuất và đời sống của chính người dân chưa được cải thiện.

Vì vậy, phát triển bền vững ở làng nghề không nhất thiết là gia tăng thật đông lượng khách đến trong một không gian giới hạn. Khả năng tiếp nhận của làng và nhịp sống thường nhật của cư dân phải được tính đến ngay từ khi thiết kế sản phẩm du lịch.

Tạo thêm giá trị cho làng nghề

Vấn đề đặt ra hiện nay không dừng ở việc đánh thức tiềm năng, mà là tổ chức du lịch thế nào để tạo thêm giá trị cho làng nghề, bắt đầu từ chính bản sắc riêng của từng nơi. Gốm Bát Tràng (Hà Nội) khác gốm Chu Đậu (Hải Phòng) và gốm Phù Lãng (Bắc Ninh). Thổ cẩm của người Thái cũng khác thổ cẩm của người Mường, người Gia Rai, người Chăm về nguyên liệu, màu sắc, hoa văn.

Sản phẩm du lịch khó tạo dấu ấn nếu một mô hình thành công ở nơi này bị bê nguyên sang nơi khác. Nhiều chuyên gia chỉ ra rằng, ngoài đào tạo người dân làm du lịch và số hóa điểm đến, đội ngũ hướng dẫn viên cần nâng cao khả năng “kể chuyện”. Công nghệ như bản đồ số, mã QR có thể hỗ trợ, nhưng câu chuyện nghề vẫn phải được kể bằng người hiểu nghề và sống trong không gian ấy.

Bên cạnh đó, cần đề cao vai trò của cộng đồng trong chuỗi giá trị. Cụ thể, nghệ nhân có thể trực tiếp hướng dẫn khách trải nghiệm, hộ sản xuất tham gia thiết kế sản phẩm, người dân cung cấp dịch vụ ăn uống, lưu trú, thuyết minh, đồng thời phát huy vai trò, tiếng nói trong việc xác định quy mô và cách khai thác điểm đến tại địa phương.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Nghiên cứu Phát triển du lịch Việt Nam, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam cho rằng du lịch làng nghề muốn bền vững cần một chiến lược dài hạn, sự tham gia tích cực của cộng đồng và gắn bảo tồn với lợi ích kinh tế và hướng tới các mô hình du lịch xanh.

Ông Hà Văn Siêu phân tích: Khi người dân làng nghề trở thành chủ thể của hoạt động du lịch, di sản văn hóa được bảo vệ, đồng thời mở ra cơ hội để du lịch Việt Nam khẳng định bản sắc riêng trên thị trường quốc tế.

Cách đánh giá hiệu quả, bởi vậy cần được nhìn nhận toàn diện hơn con số lượt khách. Thời gian lưu trú và mức chi tiêu là những chỉ báo cần thiết, nhưng với làng nghề còn phải nhìn vào thu nhập của hộ làm nghề, số người trẻ còn muốn học nghề, khả năng truyền nghề giữa các thế hệ và mức độ nguyên vẹn của không gian cộng đồng. Đó không phải một bộ tiêu chí giống nhau cho mọi nơi, nhưng là những câu hỏi nên được đặt ra sau mỗi giai đoạn phát triển.

Làng nghề có thể trở thành một lợi thế riêng của du lịch Việt Nam, song điều cần làm hiện nay không phải biến mọi làng nghề thành khu du lịch, mà chọn cách làm phù hợp với đặc điểm, năng lực của từng vùng. Người thợ sống được bằng nghề, lớp trẻ còn muốn gắn bó và làng vẫn giữ được nhịp sống của mình - khi đó, du lịch mới thật sự tiếp sức cho sự phát triển bền vững.